Công Giáo Khắp Nơi

Tôi thường tự hỏi không biết có nhiều người bị quỷ dữ hành hạ hay không. Để trả lời, tôi xin lấy ý kiến của một nhà trừ quỷ danh tiếng người Pháp, Cha Tonquedec, Dòng Tên: "Có rất đông đảo các linh hồn bất hạnh, trong khi không có dấu hiệu bị quỷ ám mà vẫn chạy đến với nhà trừ quỷ để được giải thoát khỏi những đau khổ, như những bệnh nan trị, những tai họa, đủ thứ rủi ro. Những người này chỉ có số ít bị ma quỷ ám, nhưng những linh hồn bất hạnh thì rất nhiều."

Điều nhận xét này vẫn còn hiệu lực khi chúng ta xét sự khác nhau lớn lao giữa những người thực sự bị hành hạ và những người chỉ muốn có được ý kiến khôn ngoan của nhà trừ quỷ liên quan đến hàng loạt những nỗi thống khổ của họ. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta cũng phải tính đến nhiều nhân tố mà thời của cha Tonquedec chưa có. Tôi đã trực tiếp kinh nghiệm những nhân tố này, và căn cứ trên những kinh nghiệm này tôi có thể nói rang con số những người chịu ảnh hưởng của ma quỷ càng ngày càng gia tăng nhiều.

Nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến sự gia tăng ảnh hưởng xấu là chủ nghĩa tiêu thụ phương Tây. Phần đông người ta mất đức tin là do lối sống hưởng lạc và duy vật. Tôi tin rằng phần lớn trách nhiệm được gán cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đặc biệt tại Ý, nơi học thuyết Mác-xít chi phối các phương tiện truyền thông và văn hóa trong vài năm qua. Người ta ước lượng chỉ còn 12 phần trăm dân chúng ở Roma tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật; điều rất rõ ràng là nơi đâu tôn giáo thoái trào, thì mê tín dị đoan phát triển. Chúng ta cũng nhìn thấy sự phát sinh nhanh chóng, đặc biệt nơi giới trẻ, về thông linh, ma thuật và huyền bí. Chúng ta có thể thêm vào đó việc theo đuổi môn Yoga, Thiền, chiêm niệm huyền ảo (transcendental meditation): tất cả những cái này thực hành đều dựa trên thuyết đầu thai, trên sự tan biến ngôi vị con người vào thần tính, hoặc trong bất cứ tình huống nào, dựa trên những học thuyết khác mà Kitô giáo không thể chấp nhận được. Chúng ta không cần phải đi đến Ấn độ để tìm những thày Guru; chúng ta có thể thấy họ nhan nhản trước mặt. Thường thường những việc bề ngoài có vẻ vô tội vạ ấy sẽ đưa đến những tình trạng bệnh ảo giác và tâm thần phân liệt. Tôi có thể thêm vào đó sự tăng nhanh theo cấp số nhân nhiều giáo phái, nhiều trong số đó mang dấu vết rõ ràng của ma quỷ.

Ma thuật và thuyết thông linh được dạy trên TV. Các sách về huyền bí được bày bán tại các sạp báo và qua bưu điện. Rồi chúng ta có thể thêm các bộ sưu tầm báo chí các loại và các buổi trình chiếu ghê rợn nơi mà điệu nhảy ma quỷ được thêm vào với sex và bạo lực. Và chúng ta cũng không thể không nhắc đến các loại âm nhạc đầy ám ảnh nhưng phát triển rất phổ biến; tôi có ý ám chỉ đặc biệt đến loại nhạc Rock quỉ quái. PieRomantero đã khai triển về chủ đề này trong sách của ngài nhan đề Satana e lo stratagemma della coda(Udine: Segno, 1988). Khi tôi được mời nói chuyện ở một số trường trung học, tôi đã có thể đích thân chứng minh ảnh hưởng của các công cụ này của Satan trên giới trẻ lớn lao chừng nào. Thật không thể tin nổi ma thuật và thuyết thông linh, dưới mọi hình thức, đã lan rộng nơi các trường học biết chừng nào. Sự dữ này có mặt khắp nơi, ngay cả trong những thị trấn nhỏ.

Tôi cũng phải nói thẳng ra rằng quá nhiều những nhân viên Giáo Hội hoàn toàn không quan tâm đến vấn đề này, và vì vậy họ không lo bảo vệ các tín hữu. Tôi tin rằng việc bỏ hầu hết các kinh trừ quỷ ra khỏi nghi thức rửa tội là một sai lầm trầm trọng (và dường như Đức Thánh Cha Phao lô VI cũng nghĩ như tôi). Tôi tin rang thật là một sai lầm vì đã loại bỏ kinh cầu cùng Đức Tổng Thần Micae sau mỗi Thánh Lễ mà không có sự thay thế thích hợp. Tôi xác tín rằng việc để cho thừa tác vụ trừ quỷ chết đi là một khuyết điểm không thể tha thứ thuộc về các giám mục. Mỗi giáo phận nên có ít nhất một nhà trừ quỷ tại nhà thờ chính tòa, và mỗi giáo xứ lớn và đền thánh cũng nên có một vị như thế. Ngày nay nhà trừ quỷ xem ra rất hiếm hoi, hầu như không thể tìm thấy. Mặt khác, hoạt động của nhà trừ quỷ có một giá trị không thể thiếu, cũng như giá trị của nhà giảng thuyết, giải tội, và những người ban các bí tích khác.

Hàng giáo phẩm Công Giáo phải đấm ngực ăn năn. Tôi có quen riêng với nhiều giám mục Ý; tôi biết chỉ có vài vị là đã từng thực hành hoặc tham dự vào việc trừ quỷ hoặc hiểu biết đầy đủ về vấn đề này. Tôi không ngần ngại lặp đi lặp lại điều mà tôi đã viết ở một chỗ khác: nếu một giám mục, trước một yêu cầu trừ quỷ hợp lý - tôi không nói đến đòi hỏi của một số người điên cuồng - mà không giải quyết vấn đề đích thân hoặc cử một linh mục có phẩm chất, thì ngài đã phạm vào một tội quên sót hết sức nghiêm trọng. Như kết quả của sự sao lãng này, bây giờ chúng ta đã đánh mất cái mà trước kia đã là một môn học; trong quá khứ, một nhà trừ quỷ thực tiễn sẽ đào tạo một người tập sự. Tôi sẽ trở lại đề tài này.

Chính nhờ phim ảnh mà chúng ta tìm thấy một sự tái quan tâm về việc trừ quỷ. Đài phát thanh Vatican, vào ngày 2.2.1975 phỏng vấn William Freidkin, đạo diễn cuốn phim Người Trừ Quỷ, và "vị cố vấn chuyên môn" của ông. một thần học gia, cha Thomas Bemingan, dòng Tên. Nhà đạo diễn phát biểu rằng ông ta muốn nói về những sự kiện của một giai đoạn đã xảy ra thực sự vào năm 1949 và đã được viết thành sách, bộ phim không rút ra bất cứ kết luận nào liên quan đến quỷ ám. Theo nhà đạo diễn, đây là vấn đề dành cho các nhà thần học. Khi vị linh mục dòng Tên được hỏi bộ phim Người Trừ quỷ chỉ là một trong nhiều phim kinh dị hay là một cái gì đó hoàn toàn khác hẳn, ngài mạnh mẽ xác nhận rằng nó là một loại hoàn toàn khác. Ngài đã kể ra ảnh hưởng lớn lao mà bộ phim đã gây cho khán giả trên toàn thế giới như một bằng chứng rằng - trừ ra một số những hiệu quả đặc biệt - bộ phim đã giải quyết rất đúng vấn đề ma quỷ, đánh thức lại mối quan tâm về việc trừ quỷ đã bị quên lãng.

Chúng ta có thể làm mồi cho những hoạt động ngoại thường của Satan như thế nào? Tôi có ý nói đến những hoạt động khác hơn những hoạt động thông thường, như cám dỗ, vốn xảy đến cho mọi người. Chúng ta có thể trở nên như thế do lỗi của chúng ta hoặc do hoàn toàn không biết. Chúng ta có thể gom các lý do lại thành bốn loại: 1. với sự cho phép của Thiên Chúa, 2. như những nạn nhân vô tội của một thứ bùa ngải, 3. do tình trạng tội trọng và đã ra chai đá, 4. do liên đới với những người hoặc nơi chốn xấu.

1. Với sự cho phép của Thiên Chúa. Tôi muốn nói rõ ra rằng không có gì xảy ra mà không có phép của Thiên Chúa. Nhưng cũng rõ ràng là Chúa không muốn sự dữ cho bất cứ ai, nhưng Ngài cho phép xảy ra khi đó là ý muốn của chúng ta (vì Ngài đã tạo dựng nên chúng ta với ý chí tự do hoàn toàn), và Ngài có thể sử dụng mọi sự kể cả sự dữ để mưu ích cho ta. Nét đặc trưng của loại thứ nhất trong các hoạt động ngoại thường của Satan là hoàn toàn không do tội lỗi của con người; nó hoàn toàn do sự can thiệp của quỷ. Thiên Chúa luôn luôn cho phép các hoạt động bình thường của Satan - cám dỗ - và ban cho chúng ta tất cả những ân sủng cần thiết để chống trả, để đưa tới kết quả tốt là tăng cường đời sống thiêng liêng của chúng ta. Tương tự như thế, Thiên Chúa đôi khi cũng cho phép những hoạt động ngoại thường của Satan - quỷ nhập, những ảnh hưởng xấu - để gia tăng thêm sự khiêmnhường, nhẫn nại và hành xác. Chúng tôi đã cho một vài thí dụ về loại này: một hành động bên ngoài của ma quỷ gây ra những đau đớn thể lý (như những trận đòn vọt mà cha sở họ Ars và Padre Pio đã phải chịu) hoặc khi cái gọi là quỷ hành được cho phép, như chúng tôi đã đề cập liên quan đến ông Job và thánh Phaolô.

Đời sống của các thánh bao gồm những mẫu gương về những nỗi đớn đau này. Trong số các thánh thời hiện đại, tôi có thể kể ra hai vị đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong thánh: Cha Giovanni Calabria và Dì Mary of Jesus Crucified (người Ả rập đầu tiên được phong thánh). Cả hai trường hợp, và không do lỗi nhân loại, họ đều có những thời kỳ bị quỷ nhập thực sự. Trong suốt những thời kỳ này, hai vị đã nói và làm những điều hoàn toàn không thích hợp với sự thánh thiện của họ mà không mắc chút lỗi nào, bởi vì chính ma quỷ hành động qua thể xác của họ.

2. Khi chúng ta bị bỏ bùa. Đây là một trường hợp khác trong đó nạn nhân hoàn toàn không đáng trách. Tuy nhiên, ở đây có một số hoạt động nhân loại, nhưng được thực hiện do những người bỏ bùa hoặc thuê mướn thày bùa. Tôi sẽ dành hơn một chương về chủ đề này. Ở đây tôi sẽ chỉ nói rằng bỏ bùa là gây đau khổ cho những người khác thôngqua sự can thiệp của ma quỷ. Sự can thiệp này có thể mang nhiều hình thức khác nhau: sự trói buộc, bùa-nhìn (the evil eye), một lời nguyền rủa. Tôi sẽ nói ngay rằng phương pháp thông dụng nhất là yêu thuật. Yêu thuật cũng là nguyên nhân thường xuyên nhất mà chúng tôi phải chạm trán nơi những người bị hành hạ bởi sự quỷ nhập hoặc bởi những ảnh hưởng độc ác khác. Tôi không hiểu những lý do đàng sau sự từ chối của một số nhân viên Giáo Hội, họ yêu cầu đừng tin vào yêu thuật, cũng như tôi không thể hiểu làm cách nào họ có thể che chở khỏi yêu thuật những người ở giữa đàn chiên của họ đang là nạn nhân của sự dữ này.

Một số người có thể ngạc nhiên rằng Thiên Chúa cho phép loại sự dữ này xảy ra. Thiên Chúa tạo nên chúng ta có tự do, và Ngài không bao giờ loại bỏ các tạo vật của Ngài ngay cả người hư hỏng nhất. Cuối cùng, Ngài thưởng cho mỗi người tùy theo công nghiệp của họ, bởi vì mỗi người sẽ bị xét xử theo những hành động của mình. Trong khi đó, nếu chúng ta sử dụng tốt tự do mà Ngài đã ban cho, chúng ta sẽ được phần thưởng, hoặc chúng ta có thể dùng tự do vào những mục đích xấu để lãnh lấy hình phạt. Chúng ta có thể giúp đỡ những người khác hoặc làm tổn thương họ dưới nhiều hình thức lạm dụng. Xin đan cử một thí dụ: tôi có thể thuê một tên giết người giết một ai đó; Thiên Chúa không bị bó buộc phải bắt hắn dừng tay. Cũng dễ dàng như vậy: tôi có thể thuê một tay thầy bùa bỏ bùa cho một ai đó. Thiên Chúa, cũng như trong trường hợp trên, không bị bó buộc phải can thiệp, mặc dù trong nhiều trường hợp Ngài có can thiệp. Chẳng hạn những người sống trong tình trạng ân sủng, những người cầu nguyện thường xuyên, có nhiều cơ may nhận được sự can thiệp của Thiên Chúa chống lại ma quỷ hơn những người không thực hành đức tin, hoặc tồi tệ hơn nữa, đang sống trong tình trạng tội trọng.

Ở đây tôi phải cho một lời cảnh báo mà tôi sẽ triển khai ở một chương sau: lãnh vực yêu thuật và những hoạt động ma quỷ khác là lãnh vực của những kẻ lừa bịp. Những trường hợp yêu thuật thực sự chỉ có một tỉ lệ nhỏ nhoi trong số vụ lừa đảo đang thịnh hành trong phạm vi này. Bên cạnh việc đem lại nhiều cơ hội cho những tay lừa đảo, yêu thuật cũng còn đặc biệt làm thỏa mãn những gợi ý và ý nghĩ nông cạn của những trí khôn nhu nhược. Do đó, điều quan trọng là những nhà trừ quỷ phải đề phòng sự lừa bịp, nhưng cũng quan trọng là mỗi người với lương tri, cũng phải cảnh giác.

3. Tình trạng tội nặng và chai đá. Ở đây chúng tôi đang nói đến nguyên nhân mà ngày nay, không may, đang gia tăng, với hậu quả làm tăng thêm số người làm nạn nhân của ma quỷ. Xét tận gốc, nguyên nhân đích thực luôn luôn là thiếu đức tin. Khi sự thiếu đức tin tăng thì sự mê tín dị đoan cũng tăng. Đó hầu như là thực tế toán học. Tôi tin rằng Phúc Âm cho chúng ta thí dụ rõ ràng về tính cách của Giuđa. Hắn ta là một kẻ cướp. Ai biết được biết bao nhiêu lần Chúa Giêsu cố gắng sửa bảo và kêu gọi hắn thống hối, nhưng hắn chỉ để ngoài tai và chai đá trong tội lỗi. Giuđa đã đạt tới cao điểm khi nó hỏi vị trưởng tế: "Các ông định cho tôi bao nhiêu, nếu tôi nộp Ngài cho các ông? (Mt 26,15). Trong trình thuật về bữa Tiệc Ly, Phúc Âm kể cho chúng ta bản án khủng khiếp về Giuđa: "Rồi sau khi nuốt mẩu bánh, Satan đã nhập vào hắn" (Ga 13, 27). Tôi không hồ nghi ở đây có ý nói đến việc quỷ nhập thực sự.

Trong môi trường hiện nay, nơi mà chúng ta đang chứng kiến sự sụp đổ của các gia đình, tôi đã đương đầu với nhiều trường hợp của những người bị quỷ nhập, họ là những người, ngoài những tội khác, còn sống trong hôn nhân bất hợp pháp. Tôi đã nhiều lần giải quyết cho những phụ nữ phạm tội ác phá thai. Tôi đã phải đương đầu với rất đông những người, thêm vào với những thác loạn tình dục, còn phạm thêm những hành động bạo lực khác nữa. Nhiều lần tôi đã phải đối diện với những người đồng tính nghiện ma túy và phạm những tội liên quan đến ma túy. Hiển nhiên là trong tất cả các trường hợp đó, con đường đi đến sự chữa lành chỉ bắt đầu với sự hoán cải thật lòng.

4. Liên đới với người và nơi xấu. Loại này gồm việc thực hành hoặc tham dự vào việc thực hành gọi hồn, yêu thuật, thờ Satan, hoặc các giáo phái - đỉnh cao là lễ misa đen - việc thờ phụng... liên kết với các thầy phù thủy, các thày cúng, hoặc một vài loại thày mo. Tất cả những thứ này là những hoạt động có thể làm tổn thương chúng ta trước những bùa chú quỷ ma. Nếu chúng ta đi xa đến độ muốn quan hệ với Satan, thì có một thứ giống như tận hiến cho Satan, ký máu ăn thề với Satan, gia nhập trường phái Satan, và chọn làm tư tế của Satan. Bất hạnh thay, trong mười lăm năm qua, chúng tôi đã chứng kiến sự gia tăng, hầu như bùng nổ, các kiểu liên kết này.

Một thí dụ rất thông thường của việc liên kết với các thày phù thủy hay thày mo là thế này: có một người nào đó mắc một chứng bệnh nan trị không thể tìm được bất cứ phương dược nào. Một người khác từng chịu mọi thứ rủi ro và tin rằng đó là do ảnh hưởng của ma quỷ. Họ đến thỉnh cầu một gã thày mo hoặc thày phù thủy, han nói với họ: "Anh bị bùa yểm." Cho đến bấy giờ sự tổn thất chưa đáng kể. Tuy nhiên, không may, sau đó tên phù thủy sẽ nói đại khái thế này: "Nộp mười ngàn Dollars - hay hơn nữa - tôi sẽ chữa cho anh." Tiền thù lao có thể lên đến 35.000 Dollars. Nếu bệnh nhân đồng ý, tên thày mo hoặc thầy phù thủy sẽ đòi hỏi một số vật thuộc cá nhân: một tấm hình, một miếng quần áo lót, một mớ tóc, hoặc chút móng tay cắt ra. Lúc này hành vi ma quỷ đã thực hiện. Thầy mo sẽ làm gì với những vật này? Rõ rằng hắn dùng để thực hành ma thuật đen.

Không may, nhiều người trở nên nạn nhân cho những tên này bởi vì những tên phù thủy này thường là các mụ đàn bà, những người thường được thấy trong nhà thờ, hoặc vì phòng của người phù thủy cũng có treo ảnh Thánh giá, chân dung các thánh, Đức Trinh Nữ, và chân dung cha Pardre Pio. Các nạn nhân cũng thường nói: "Tôi chỉ thực hành ma thuật trắng; nếu bạn yêu cầu tôi thực hành ma thuật đen tôi sẽ từ chối." Theo thuật ngữ hiện hành, ma thuật trắng có nghĩa là lấy bùa ra khỏi; ma thuật đen nghĩa là bỏ bùa vào. Thực ra, như cha Candido không ngừng nhắc lại rằng không có chuyện ma thuật trắng với đen; chỉ có ma thuật đen. Mọi hình thức ma thuật đều được thực hành với sự trợ giúp của Satan. Do đó, nạn nhân khốn nạn nào đã đến với phù thủy với một chút ảnh hưởng ma quỷ (hoặc có thể không chút ảnh hưởng nào) thì cũng trở về nhà với một ảnh hưởng ma quỷ thực sự và đầy tràn tai họa. Khi điều đó xảy ra, thường thường chúng tôi, những nhà trừ quỷ, phải làm việc vất vả nhiều sau hành động rủi ro của các phù thủy hơn là nếu bệnh nhân đến với chúng tôi ngay từ đầu.

Ngày nay cũng như thời xưa, nhiều khi sự việc quỷ nhập có thể bị lẫn với các bệnh về tâm lý. Tôi rất quí trọng các thầy thuốc tâm lý, những người thành thạo trong nghề và biết những giới hạn của khoa của họ. Họ có thể trung thực nhận biết khi nào một trong những bệnh nhân của họ biểu lộ những triệu chứng vượt quá bất cứ căn bệnh nào đã được biết đến. Chẳng hạn, giáo sư Simone Morabito, ở Begamo, nói rằng nhiều người coi như bị bệnh tâm thần, trong thực tế họ bị đau đớn vì bị quỷ ám, và ông ta có thể chữa cho họ với sự giúp đỡ của các nhà trừ quỷ (x. Gents, no. 5 [1990], pp. 106-12). Tôi biết nhiều trường hợp tương tự và tôi muốn cho một thí dụ đặc biệt.

Vào ngày 24.4.1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong thánh cho cha Francisco Palau, dòng Cát minh Tây ban nha. Cha Palau rất quan tâm đến những công việc của chúng tôi vì ngài đã dành những năm cuối đời để lo cho những người bị quỷ ám. Ngài mua một bệnh viện để chăm sóc những bệnh nhân tâm thần. Ngài đã trừ quỷ cho tất cả mọi bệnh nhân, những ai bị quỷ ám thì đã được khỏi còn những người chỉ bị bệnh tâm thần thì vẫn còn bệnh. Ngài phải đương đầu với nhiều ngãng trở trong tác vụ của ngài, chủ yếu từ phía hàng giáo sĩ. Ngài đến Roma hai lần, một lần vào năm 1866 để trình bày những vấn đề của ngài với Đức Thánh Cha Pio IX, và một lần vào năm 1879 để xin Công Đồng Vatican I tái lập chức vụ trừ quỷ như một tác vụ vĩnh viễn của Giáo Hội. Chúng ta biết rằng Công Đồng đã bị gián đoạn; tuy nhiên, nhu cầu tái lập lại công việc mục vụ này vẫn còn khẩn thiết.

Phải thừa nhận rằng thật khó mà phân biệt được giữa người bị quỷ ám và người bị bệnh tâm thần. Tuy nhiên, một nhà trừ quỷ thành thạo sẽ có thể nhận ra sự khác biệt dễ dàng hơn bác sĩ tâm lý bởi vì nhà trừ quỷ có đầu óc cởi mở trước tất cả mọi khả năng và sẽ có thể nhận dạng những yếu tố khác biệt. Bác sĩ tâm lý, trong phần lớn các trường hợp, không tin vào sự quỷ ám; do đó, họ không xét đến khía cạnh đó trong tiến trình chẩn đoán của họ. Cách đây nhiều năm, cha Candido trừ quỷ cho một thanh niên đã được một bác sĩ tâm lý chẩn đoán là mắc chứng động kinh. Vị bác sĩ này đã chấp nhận lời mời đến quan sát người bệnh trẻ của ông ta trong suốt thời gian trừ quỷ. Khi cha Candido lấy tay chạm vào đầu của người thanh niên, anh ta ngã xuống đất. Vị bác sĩ nhanh nhẩu nêu nhận xét: "Thưa cha, cha có nhìn thấy rõ ràng là chúng ta đang đối phó với cơn động kinh không?" Cha Candido lại cúi xuống đặt tay trên đầu anh ta lần nữa. Anh ta nhảy lên và đứng yên không động đậy. Cha Candido hỏi: "Những người động kinh có làm thế này không? - "Không, không bao giờ", bác sĩ trả lời, rõ ràng có thái độ xuống nước. Cuối cùng cha Candido đã dùng phép trừ quỷ chữa khỏi hoàn toàn cho người thanh niên đó, trong khi nhiều năm qua, các bác sĩ và những toa thuốc - chưa kể tiền thù lao - đã chỉ làm anh ta thêm trầm trọng.

Ở đây chúng ta chạm vào một vấn đề khó khăn: trong các trường hợp khác, việc chẩn đoán đòi hỏi sự hợp tác giữa các lãnh vực chuyên môn khác nhau, như chúng tôi sẽ chứng minh ở những phân tích cuối cùng. Không may, những người mất tiền cho những sai lầm của các chuyên gia luôn luôn là những người bệnh và cũng thường hay bị tán gia bại sản vì những sai lầm y khoa.

Tôi rất cảm kích những nhà khoa học, dù là những người không tin, nhưng cũng biết nhận ra những giới hạn của khoa học của họ. Giáo sư Emilio Servadio, là một thầy thuốc tâm thần, một nhà phân tâm học, và là một nhà siêu tâm lý học nổi tiếng quốc tế, đã cho một bài phát biểu rất hay trên đài Vatican, vào ngày 2.2.1975 như sau:

Khoa học phải ngừng lại khi chạm trán với điều không thể được cắt nghĩa hoặc được chứng minh bằng những phương pháp đã được biết. Một số những giới hạn không thể nhận diện được cách chính xác bởi vì chúng ta không đang đối phó với những hiện tượng vật lý. Tôi tin rằng mỗi khoa học gia ý thức trách nhiệm của mình thì cũng biết rằng các dụng cụ của mình vẫn có giới hạn. Khi chạm đến sự quỷ ám tôi có thể chỉ nói riêng mình chứ không nhân danh khoa học. Tôi đã nhìn thấy một trường hợp sự dữ và sự phá hoại được gây nên do một số hiện tượng có những nét đặc trưng thực sự mà không thể lầm được vì những hiện tượng đó đã được giải quyết bởi một nhà khoa học như một nhà siêu tâm lý, hoặc một bác sĩ tâm thần - chẳng hạn, khi chúng tôi đối phó với những yêu tinh hoặc những hoạt động tương tự. Đó là muốn cố gắng so sánh một cậu trai độc ác với một kẻ tội phạm ác dâm. Có sự khác nhau mà không thể nào đo lường được bằng những dụng cụ nhưng có thể cảm nhận được.Trong những tình huống này tôi tin rằng một người làm khoa học phải thừa nhận sự hiện diện của những quyền lực mà không thể được điều khiển bởi khoa học và khoa học không thể được gọi để xác định.

PHỤ CHƯƠNG

Sợ ma quỷ? Thánh Têrêsa Giêsu trả lời:

Tôi xin cống hiến một đoạn văn trích từ tự truyện của thánh Têrêsa Avila để chống lại sự sợ hãi ma quỷ một cách thái quá. Đó là một đoạn văn có sức củng cố, trừ khi chính chúng ta mở cửa cho ma quỷ. (từ cuốn The Book of Her Life, chap. 25 nos. 19-22, trong The Collected Works of St.Teresa of Avila, trans. Kieran Kavanaugh, O.C.D., và Otilio Rodriguez, O.C.D., vol. 1, 2d ed. [Washington, D.C.: ICS Publications, 1987])

Nếu Chúa là Đấng toàn năng, như tôi thấy và biết Ngài là như thế, và nếu ma quỷ là những nô lệ của Ngài (và không có gì để hồ nghi về vấn đề này, vì đó là vấn đề đức tin), thì chúng có thể làm điều gì xấu cho tôi được, khi tôi là tôi tớ của vị Chúa và Vua này. Tại sao tôi lại không có can đảm dấn thân vào cuộc chiến chống toàn thể hoả ngục?

Tôi cầm Thánh giá trong tay, và tôi cảm thấy thực sự Thiên Chúa đã ban cho tôi can đảm bởi vì trong một thời gian ngắn tôi đã thấy rằng tôi đã là một con người khác và tôi không còn sợ phải đích thân chiến đấu với chúng; vì tôi nghĩ rằng với Thánh giá tôi có thể dễ đàng chiến thắng tất cả bọn chúng. Thế nên tôi đã nói: "Nào tất cả tụi bay hãy lại đây, tao là nữ tì của Chúa, tao muốn xem xem tụi bay có thể làm gì được tao."

Tôi thấy chắc chắn rằng chúng đã sợ tôi, vì tôi vẫn bình tĩnh và không sợ chúng chút nào. Mọi nỗi sợ hãi mà tôi cảm thấy đã tan biến. Vì mặc dù đôi khi tôi đã nhìn thấy chúng, như tôi sẽ kể lại sau, tôi cũng không còn sợ bọn chúng chút nào nữa; đúng hơn là bọn chúng sợ tôi. Chúa muôn loài đã thực sự ban cho tôi có oai quyền trên chúng; tôi coi chúng không hơn những con ruồi và chẳng thèm chú ý đến. Tôi nghĩ chúng là những kẻ nhút nhát đến nỗi khi chúng thấy chúng ít được kiêng nể, thì sức mạnh của chúng cũng tiêu tan. Những tên kẻ thù này không dám tấn công trực tiếp vào ai, trừ những người mà chúng thấy đầu hàng chúng, hoặc khi Thiên Chúa cho phép chúng làm như vậy vì lợi ích lớn lao của các tôi tớ Ngài, những người mà chúng cám dỗ và hành hạ. Xin Chúa ban cho chúng con biết kính sợ Đấng chúng con phải sợ và cho chúng con hiểu biết rằng một tội nhẹ có thể làm hại cho chúng con hơn là sức mạnh của tất cả hoả ngục hợp lại - vì thực sự là thế.

Nếu ma quỷ làm được cho chúng ta khiếp sợ, chính là tại chúng ta đã tự làm cho mình hoảng sợ bởi gắn bó với vinh dự, của cải, thú vui. Lúc đó chúng gây tổn hại cho chúng ta rất nhiều, khi chúng liên kết với chúng ta - vì chúng ta yêu thích và ước muốn những cái đáng lẽ ra phải ghét bỏ nên chúng ta tự phản lại chính mình. Vì chúng ta làm cho chúng chống lại chúng ta bằng vũ khí của chính chúng ta, tức là trao cho chúng cái mà chúng ta đang cần để tự phòng vệ. Đây là điều hết sức đáng tiếc. Nhưng nếu chúng ta ghét bỏ mọi sự vì Chúa và chúng ta ôm ấp Thánh giá và thực sự cố gắng phụng sự Chúa, thì ma quỷ sẽ chạy trốn những chân lý này như trốn bệnh dịch vậy. Ma quỷ yêu sự dối trá và là chính sự dối trá. Nó không thể đồng hành với bất cứ ai bước đi trong chân lý. Khi nó thấy trí khôn của một người ra tối tăm, nó sẽ giúp cho trở nên mù loà hoàn toàn. Nếu ma quỷ thấy ai mù tối đi tìm an ủi nơi của phù vân (những sự thế gian này đều giống trò trẻ con và đều là phù vân), thì nó coi người đó như trẻ con, đối xử với họ như với trẻ con và dám bắt nạt họ không phải một lần nhưng là nhiều lần.

Xin Chúa đừng để con vào số những người này, nhưng xin Ngài thương cho con biết tìm an ủi ở nơi cái gì thực là an ủi, vinh dự ở nơi cái gì thật là vinh dự, và lấy làm vui trong cái gì thực là niềm vui chứ không lẫn lộn; và tất cả ma quỷ chẳng có giá trị gì, bởi vì chúng sẽ khiếp sợ con. Tôi không hiểu những nỗi sợ khiến người ta kêu: "Ma quỷ? Ma quỷ!" khi đáng lẽ người ta phải nói: "Lạy Chúa! Lạy Chúa!" và khiến cho ma quỷ phải run sợ. Đúng vậy, vì chúng ta biết rằng ma quỷ không thể quấy rối được nếu Chúa không cho phépnó. Có gì mà phải sợ cơ chứ? Chắc chắn tôi sợ những người khiếp ma quỷ hơn sợ chính ma quỷ, vì nó không thể làm gì được tôi. Còn họ, đặc biệt khi họ là những vị giải tội thì họ có thể gây ra những xáo trộn nghiêm trọng; tôi đã phải trải qua nhiều năm chịu những thử thách lớn lao như thế, đến nỗi bây giờ tôi lấy làm ngạc nhiên không hiểu sao tôi đã có thể chịu đựng được như vậy. Xin chúc tụng Chúa, Đấng đã giúp đỡ con hữu hiệu như thế!