Chúng ta có thể nghĩ “sống theo công chính” như triết gia Épictète nói là không làm điều xấu, không gây thiệt hại, không đi ngược với thứ trật bên trong. Như thế ở đây chúng ta lại thấy ý tưởng này cũng được khoa tâm lý chuyển bản vị khẳng định. Đối với Bugental, đây là sống hòa hợp với bản chất tự nhiên của loài người và với thực tế.
Điều ngạc nhiên là đối với khoa tâm lý chuyển bản vị khái niệm thứ ba, khái niệm sùng kính, lại cũng là một phần của đời sống có tự do và có ý thức. Bugental, sau khi đã nói về nghệ thuật sống có ý thức và không nên ép mình đi tìm ở bên ngoài những gì làm cho mình tin tường và thỏa mãn vì mình có ý thức về đời sống nội tâm của mình,
Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đĩ, anh em được thơng phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thốt khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian.
Theo bức Thư Thứ Nhì của thánh Phê-rô, chúng ta nhận ơn thông dự vào đời sống thật bởi vì chúng ta được Chúa Kitô kêu gọi và chúng ta tin vào lời loan báo của các thánh tông đồ. Thánh Phê-rô muốn chúng ta hiểu như thế mới thực sự xứng đáng là người kitô, tin vào sứ điệp Sách Thánh nói với chúng ta.
Đời sống của ai trung thực theo thiên tính với tám đức tính này thì không thể không sinh hoa trái. Đó là đời sống của hoa quả bốn mùa cho phép chúng ta là biết Chúa một cách sâu xa trong tâm hồn. Dồi dào là một khía cạnh thiết yếu của cuộc sống. Đời sống con người cũng là một đời sống tăng trưởng và sinh hoa kế trái; tám đức tính phù với thiên tính sẽ làm nó nở hoa.
Đâu là mối liên hệ giữa nội dung bức thư của thánh Phê-rô và chủ đề tự mình làm khổ mình và tự do nội tâm? Ai cứ thường xuyên chú tâm vào những vấn đề của mình thì tự làm khổ mình. Ai cứ nghĩ mình phải thoát ra khỏi các lo lắng này thì lại càng dính vào nó.
Tôi muốn kết luận các suy nghĩ về chủ đề mình tự làm khổ mình, về con đường Kinh Thánh và về huyền nhiệm của tự do bằng câu chuyện trong sách Talmud cha Henri Nouwen kể lại:
Sơ Lược Tiểu Sử Thánh Gioan Vianney, Từ Khi Cha Gioan Nhận Xứ ARS,Những Cách Thế Cha Gioan Đã Dùng, Dân Chúng Từ Khắp Nơi Kéo Đến Xưng Tội Với Cha Gioan Trong Những Năm 1826 - 1859, Cha Gioan Vianney Chữa Bệnh Phần Xác, Phần Hồn,Những Nhân Đức Cha Gioan Luyện Tập
Cách thành phố Lyon giàu có và sùng đạo khoảng một giờ đi bộ, có một ngôi làng tên là Dardilly. Làng không lớn nhưng trù phú vì đất đai rất phì nhiêu, có nhiều vườn cây ăn trái và nhất là trồng nhiều nho để ép rượu. Vì thế, dân làng tuy có đến một ngàn năm trăm người, nhưng nhiều gia đình dư ăn dư mặc chẳng mấy ai thiếu thốn. Trong làng Dardilly có hai vợ chồng thuộc giới trung lưu khá giả, ông chồng tên là Mátthêu, bà vợ là Maria.
Khi Chúa đuổi ông Adong và bà Evà ra khỏi vườn Địa Đàng, từ đó đất đai sinh gai góc, cỏ dại khiến hai ông bà cùng con cháu, là tất cả nhân loại, phải làm việc vất vả khó nhọc, phải đổ mồ hôi ra mới có của ăn và phải chết. Vì vậy trong thế gian nầy, mọi người đều phải khó nhọc làm nghề nọ, nghề kia để nuôi sống mình, nhưng không có nghề nào vất vả khó nhọc, dầm mưa dãi nắng cho bằng nghề nông.
